SỞ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ TỈNH BẮC NINH

TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ VẤN VÀ XÚC TIẾN ĐẦU TƯ

CHUYÊN GIA TƯ VẤN HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP

Tình Hình Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội 3 Tháng đầu Năm 2018

 

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 3 tháng đầu năm 2018

 

  1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
  2. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý I theo giá so sánh 2010 ước đạt 34.697,6 tỷ đồng, tăng 17,7% so với quý I/2017, đây là mức tăng cao so với cùng kỳ trong nhiều năm qua; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,8% chủ yếu do tăng ở ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21%; khu vực dịch vụ (bao gồm cả thuế sản phẩm), tăng 9,8%. Sở dĩ, kinh tế quý I năm nay tăng trưởng cao là do sản xuất công nghiệp của khu vực FDI vẫn duy trì được đà tăng trưởng cao nhờ có thêm nhà máy sản xuất màn hình tinh thể lỏng các loại đi vào hoạt động ổn định từ quý IV/2017, ước tính giá trị sản xuất của các doanh nghiệp FDI trong quý I bằng 75% của quý IV/2017 và tăng tới 45% so cùng kỳ năm trước. Ở khu vực dịch vụ, một số ngành tiếp tục được mở rộng về quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người lao động đang tiếp tục gia tăng trong các khu công nghiệp cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp, nên đạt mức tăng trưởng khá cao, như: ngành bán buôn, bán lẻ (tăng 9,8%); vận tải, kho bãi (tăng 11,7%); dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 13,5%); dịch vụ kinh doanh bất động sản (tăng 6,3%); các dịch vụ hành chính, hỗ trợ và phục vụ nhu cầu cá nhân cũng đều đạt mức tăng cao, từ 12-14%.

  1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
  2. Sản xuất nông nghiệp

1.1. Kết quả trồng trọt

- Kết quả sản xuất vụ đông: tổng diện tích gieo trồng cây rau màu vụ đông toàn tỉnh đạt 6.868,3 ha, bằng 91,6% kế hoạch và bằng 92,9% (giảm 527,6 ha) so với cùng vụ năm trước; trong đó, cây ngô đạt 838,5 ha, giảm 264,3 ha so cùng vụ năm trước, cây đậu tương đạt 27,1 ha, giảm 111,3 ha, cây rau màu đạt 5.692 ha, giảm 96,4 ha. Về năng suất và sản lượng, cây ngô đạt 49,3 tạ/ha, giảm 4,1 tạ/ha và sản lượng đạt 4.133 tấn, giảm 1.755 tấn so vụ đông năm trước; cây rau các loại, đạt 231,8 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha và sản lượng đạt 131.935 tấn, giảm 1.314,7 tấn (do giảm về diện tích). Giá trị trồng trọt (theo giá so sánh 2010) vụ đông năm nay đạt 658,4 tỷ đồng, giảm 1,4% so cùng vụ năm trước. Tuy nhiên, theo giá hiện hành giá trị sản xuất đạt 762,3 tỷ đồng, tăng 5,1% chủ yếu do nhóm cây thực phẩm ứng dụng CNC có sản lượng và giá bán khi thu hoạch cao hơn.

- Kết quả sản xuất vụ xuân: Đầu vụ thời tiết diễn biến không thuận, mưa phùn rét đậm, rét hại ảnh hưởng tới việc cày ải, làm đất và quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng (đặc biệt là cây mạ). UBND tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo và hướng dẫn bà con nông dân tổ chức che phủ nilon đúng kỹ thuật, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên sinh trưởng, phát triển tốt, đảm bảo đủ mạ cấy hết diện tích. Đến nay toàn tỉnh đã gieo cấy vụ xuân được 33.868 ha, đạt 98,2% kế hoạch và bằng 99,9 % so cùng vụ năm trước (giảm 28,6ha); diện tích lúa chăm sóc đợt 1 được 18.510 ha lúa xuân, bằng 74,1% so cùng vụ năm trước. Cùng với gieo cấy lúa xuân, toàn tỉnh đã gieo trồng được 3.407,7 ha cây rau màu vụ xuân, đạt 73,8% so KH vụ và bằng 92,6% so cùng kỳ năm trước; trong đó: Cây ngô đạt 821,4 ha, đạt 58,7% KH và bằng 76,1 %; cây lạc đạt 281 ha, bằng 60,9% so với cùng kỳ; rau các loại được 2.113,1 ha, tăng 8,8% so cùng kỳ.

1.2. Chăn nuôi và công tác thú y

- Chăn nuôi: Tính đến cuối tháng 3, toàn tỉnh có 2.285 con trâu, tăng 0,7% (tăng15 con) so cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 30.100 con, giảm 4,3% (giảm 1.358 con), trong đó có 683 con bò sữa, tăng 31,3% (tăng 163 con); đàn lợn có 341.340 con, giảm 3,2%  (giảm 11.160 con); đàn gia cầm có 4.501,5 nghìn con, tăng 1,2% (tăng 52,5 ngàn con). Sản lượng thịt hơi gia súc gia cầm xuất chuồng quý I ước đạt 7.813 tấn, tăng 1,2% so cùng kỳ năm trước.

- Công tác thú y: Trong quý I, mặc dù trên địa bàn xảy ra 1 ổ dịch lở mồm long móng, nhưng nhờ phát hiện sớm, kịp thời tiêu hủy và triển khai các biện pháp khử trùng khoang vùng, nên đã khống chế không để lây lan. Đến nay, sau không phát hiện thêm ổ dịch mới và hoạt động chăn nuôi diễn ra bình thường; tuy nhiên, hiện nay thời tiết đang ẩm thấp kéo dài nên nguy cơ tái phát dịch rất lớn. Hiện nay, ngành Thú y đã phối hợp với các địa phương triển khai tiêm phòng bổ sung, phối hợp với đội liên ngành tăng cường công tác giám sát tại các địa phương đã từng xảy ra dịch; công tác tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở, hộ chăn nuôi áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc chuồng trại sạch sẽ được đẩy mạnh, lồng ghép cùng với các đợt tiêm phòng đại trà, đến nay toàn tỉnh đã tiêm được 100 nghìn liều vắc xin lở mồm long móng cho đàn gia súc; công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y cũng được thực hiện thường xuyên.

  1. Lâm nghiệp

Trong quý I, các hộ dân được giao trồng rừng chủ yếu tập trung thu dọn thực bì, cuốc hố, chuẩn bị mọi điều kiện và từng bước triển khai trồng rừng theo kế hoạch. Riêng ngày 25-2 (tức ngày mùng 10 Tết), Ủy ban nhân dân tỉnh đã phát động Tết trồng cây với sự tham gia của đông đảo cán bộ, học sinh và nhân dân các địa phương và đã trồng được 116 nghìn cây phân tán.

  1. Thủy sản

Trong quý I, các cơ sở nuôi trồng đã tổ chức tu bổ, sửa chữa hệ thống ao, hồ, bể, cống cấp và thoát nước; cải tạo, nạo vét khử trùng vệ sinh đáy ao, hồ; tôn cao bờ để chuẩn bị nuôi thả cá vụ mới. Đến cuối quý I, diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính còn 5.231,4 ha, giảm 8,6 ha so cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác quý I đạt 9.678 tấn, tăng 1,8% (tăng 171 tấn) so với cùng kỳ; trong đó, nuôi lồng bè đạt 1.104 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ.

III. Sản xuất công nghiệp, hoạt đồng đầu tư, phát triển doanh nghiệp, giao thông vận tải

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Tháng 3, sản xuất công nghiệp tăng 26,2% so tháng trước và tăng 34,7% so cùng tháng năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm, IIP toàn ngành công nghiệp tăng 38%

Giá trị sản xuất: Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3 ước đạt 86.855 tỷ đồng, tăng 13,6% so tháng trước và tăng 21,5% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân tăng là do ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học là ngành chiếm tỷ trọng lớn (trên 80%), có giá trị sản xuất tăng 35% với cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 242.733,5 tỷ đồng, tăng 40,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 40,6%.

  1. Đầu tư xây dựng cơ bản

Tổng vốn đầu tư phát triển quý I ước đạt 18.384,5 tỷ đồng, tăng 5,6% so với quý I/2017; trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đạt 736,6 tỷ đồng, tăng 24,1% và vốn vay từ các nguồn khác đạt 86,3 tỷ đồng, tăng 57,3%; vốn ngoài Nhà nước đạt 4.023,2 tỷ đồng, giảm 14,5% so quý I/2017; vốn đầu tư của doanh nghiệp FDI đạt 13.388,7 tỷ đồng, tăng 12,9% so quý I/2017.

Xét theo mục đích đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 13.264,6 tỷ đồng, giảm 7,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó chi lắp đặt dây truyền sản xuất và máy móc thiết bị đi kèm là 6.510 tỷ đồng, giảm 22,4%; vốn mua sắm tài sản cố định không qua xây dựng cơ bản đạt 3.884,8 tỷ đồng, tăng 91,8%; vốn bổ sung vốn lưu động đạt 1.132,5 tỷ đồng, tăng 11,8%.

  1. Giao thông vận tải

- Vận tải hành khách: Trong 3 tháng đầu năm, vận chuyển 3.484 nghìn HK, tăng 13,7% so cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển đạt 165,8 triệu lượt HK.km, tăng 14,6%.

- Vận tải hàng hoá: Trong 3 tháng đầu năm, khối lượng vận chuyển quý I ước đạt 5.824 nghìn tấn, tăng 5,6% so cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển đạt 282,3 triệu tấn.km, tăng 4,4% so cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải: Tổng doanh thu quý I ước đạt 1.544,6 tỷ đồng, tăng 11,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó doanh thu vận tải hành khách đạt 326,5 tỷ đồng và tăng 15,5%; doanh thu dịch vụ logistic đạt xấp xỉ 569 tỷ đồng, tăng 16%. Doanh thu của doanh nghiệp FDI ước đạt 464,6 tỷ đồng; so cùng kỳ năm trước, tăng 2% về tỷ trọng và tăng 19,8% về giá trị.

  1. Thương mại – dịch vụ, tài chính, ngân hàng
  2. Thương mại – Dịch vụ

- Lưu chuyển hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 3 ước đạt 3.028 tỷ đồng, tuy giảm 1,8% so tháng trước, nhưng vẫn tăng cao (tăng 13,3%) so cùng tháng năm trước. Tính chung quý I, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 9.367 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có mức tăng cao hơn chỉ số chung là hàng may mặc (tăng 16,9%); vật phẩm văn hóa, giáo dục (tăng 16,3%); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 18,2%); ô tô các loại (tăng 11,5%); xăng dầu (tăng 16,4%). Dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục được mở rộng về quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu của dân cư và du khách sau Tết đi du xuân và lễ hội đầu năm. Bên cạnh đó, lao động các tỉnh tiếp tục về Bắc Ninh làm việc trong các KCN gia tăng, nên dịch vụ suất ăn công nghiệp cũng tăng cao. Tổng doanh thu lưu trú và ăn uống quý I ước đạt 1.447,5 tỷ đồng, tăng 11,6% so cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu ăn uống đạt 1.368,8 tỷ đồng, tăng 11,7% so cùng kỳ.

Các ngành dịch vụ khác (không bao gồm dịch vụ công) cũng tiếp tục phát triển mạng lưới ở các KCN nhằm đáp ứng nhu cầu đang gia tăng của người lao động và các doanh nghiệp, nên doanh thu tăng khá. Tính chung quý I, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 1.753 tỷ đồng, tăng 11,9% so cùng kỳ, trong đó doanh thu kinh doanh bất động sản đạt 1.268 tỷ đồng, tăng 9,2%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ kinh doanh đạt 222 tỷ đồng, tăng 19,6%; ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 54 tỷ đồng, tăng 23,2%; dịch vụ khác 109,3 tỷ đồng, tăng 24,8%.

- Hoạt động ngoại thương:

Về xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong quý I ước đạt 8.042,7 triệu USD, tăng tới 84,9% so cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực FDI đạt 8.021,2 triệu USD, tăng 84,4% và khu vực ngoài nhà nước đạt 21 triệu USD, gấp 2,2 lần. Nhóm hàng điện tử vẫn chiếm tỷ trọng lớn, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 6.892,7 triệu USD, tăng 66,1% so cùng kỳ năm trước; nhóm máy vi tính và phụ kiện đạt 1.041,2 triệu USD, gấp 13,7 lần. Các sản phẩm truyền của địa phương cũng tăng mạnh so cùng kỳ năm trước, như: đồ gỗ đạt gần 1 triệu USD và tăng 36,8%; hàng dệt may đạt 39,1 triệu USD và tăng 43,5%; sản phẩm từ chất dẻo đạt 11 triệu USD, gấp 4,4 lần.

Về nhập khẩu: Sau nhiều kỳ tăng cao và còn nguồn dự trữ năm trước chuyển sang, đến nay các doanh nghiệp đã giảm dần lượng nhập khẩu và chủ động tìm nguồn thay thế trong nước để giảm chi phí sản xuất và nâng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm theo lộ trình. Tổng kim ngạch nhập khẩu quý I ước đạt 5.828,2 triệu USD, tăng 38,8% so với quý I/2017; trong đó, khu vực FDI đạt 5.766,6 triệu USD, tăng 37,4%; doanh nghiệp tư nhân đạt 61,6 triệu USD và giảm 31,2% so cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng nhập có giá trị tăng so cùng kỳ năm trước, như: vải may mặc (tăng 25,5%) và phụ liệu hàng dệt may (tăng 12,7%); linh kiện điện tử (tăng 30,8%); máy móc thiết bị dùng cho sản xuất (gấp 2 lần). Nguồn nhập khẩu lớn nhất vẫn ở thị trường châu Á, với tỷ trọng chiếm tới 80%; trong đó khu vực Đông Á đạt gần 4.500 triệu USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc giảm do mặt hàng sắt thép đang bị kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo vệ hàng sản xuất trong nước và tránh tình trạng lợi dụng để xuất khẩu sang Mỹ.

  1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn quý I đạt 8.340 tỷ đồng, đạt 35% dự toán năm và tăng 26,3% so với quý I/2017; trong đó, thu nội địa là 6.920 tỷ đồng, chiếm tới 83%, đạt 38,5% dự toán và tăng 33,4%; thu từ hải quan là 1.420 tỷ đồng, đạt 24,1% dự toán và tăng 1,2%. Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 3.525,6 tỷ đồng, đạt 30,1% dự toán năm và tăng 29,6% so quý I/2017; trong đó, chi cho đầu tư phát triển là 1.498,3 tỷ đồng, đạt 57% dự toán và tăng 14,1%; chi thường xuyên là 2.013,9 tỷ đồng, đạt 24,6% dự toán và tăng 46,8%.

  1. Ngân hàng – Tín dụng

Tổng nguồn vốn huy động tín dụng đến cuối tháng 3 ước đạt 90.600 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước, tăng 20,6% so cùng tháng năm trước và tăng 0,1% so cuối năm 2017. Tổng dư nợ tín dụng đến cuối tháng 3 đạt 70.000 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước, tăng 20,7% so cùng tháng năm trước và tăng 1,3% so cuối năm 2017; trong đó, cho vay trung và dài hạn đạt 27.500 tỷ đồng, chiếm 39,3%, tăng 0,9%, tăng 17,2% và tăng 3,3%. Đến cuối tháng 3, nợ xấu trên địa bàn còn 650 tỷ đồng, chiếm 0,93% tổng dư nợ. Tổng thu tiền mặt trong quý I ước đạt 125,4 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với quý I/2017. Tổng chi tiền mặt đạt 125,1 nghìn tỷ đồng, tăng 30,2%; bội thu tiền mặt ước đạt 300 tỷ đồng, thấp hơn mức 1.366 tỷ đồng của quý I/2017.

  1. Một số hoạt động văn hóa xã hội, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường
  2. Hoạt động văn hóa, thông tin và thể dục thể thao

Công tác thông tin và các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong quý I tập trung tuyên truyền thực hiện theo Nghị quyết số 01/NĐ-CP của Chính phủ, Chỉ thị số 01/CT-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh và phục vụ Tết Nguyên đán Mậu Tuất, các ngày lễ, kỷ niệm lớn, như: 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm cuộc tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân (1968), 170 năm ra đời tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”, ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3), ngày Thể thao Việt Nam,.. Tại nhiều địa phương, đã tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào năm mới, treo cờ, băng rôn, khẩu hiệu. Tại các di tích lịch sử văn hóa được trang trí, tạo cảnh quan, môi trường sạch đẹp, cử người hướng dẫn khách tham quan và nhân dân đến tế lễ đảm bảo văn minh. Thư viện, Bảo tàng tỉnh tổ chức Trưng bày Báo xuân Mậu Tuất năm 2018, mở cửa đón du khách và nhân dân tham quan trong dịp Tết với chủ đề “Mùa xuân khơi nguồn văn hóa đọc”; thành tựu KT-XH tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-2017 và kế hoạch phát triển năm 2018, định hướng đến năm 2030. Trung tâm Văn hóa tỉnh, Nhà hát Quan họ tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, phục vụ các lễ hội truyền thống của các địa phương và Hội thi Hát dân ca Quan họ xuân Mậu Tuất 2018; tổ chức thành công Chương trình văn nghệ đón Giao thừa Xuân Mậu Tuất 2018 tại Tượng đài Lý Thái Tổ, thành phố Bắc Ninh; bắn pháo hoa tại các khu vực trung tâm các huyện, thị xã, thành phố. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao quần chúng cũng được tổ chức sôi động[1]. Trong quý I, Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh đã thực hiện 900 chương trình phát thanh với 408 giờ; xây dựng và sản xuất 1.117 chương trình truyền hình với 2.160 giờ; so cùng kỳ năm trước, tăng 8,2% về số chương trình truyền hình. Nhìn chung, hoạt động thông tin tuyên truyền, văn hóa văn nghệ trong quý I diễn ra sôi động, hiệu quả, đặc biệt hoạt động lễ hội được quản lý, tổ chức chặt chẽ góp phần gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa Kinh Bắc, được dư luận khách quan đánh giá tốt.

Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và tiếp tục phát triển về bề rộng[2]. Công tác đào tạo, huấn luyện các vận động viên năng khiếu, đầu tư cho thể thao thành tích cao được UBND tỉnh quan tâm và hỗ trợ kịp thời.

  1. Hoạt động y tế

Trong quý I, do thời tiết giao mùa, nền nhiệt độ thay đổi nhanh và thất thường, nên số người bị bệnh về hô hấp gia tăng, nhất là người già và trẻ em dưới ba tuổi. Bên cạnh đó, một số bệnh truyền nhiễm như quai bị, thủy đậu và tay chân miệng cũng tăng hơn. Tuy nhiên, toàn tỉnh đã chủ động phòng chống và triển khai điều trị từ tuyến cơ sở, nên các dịch bệnh không có dấu hiệu lây nhiễm trong cộng đồng. Các tuyến y tế đã khám bệnh cho 394,4 nghìn lượt người, giảm 4,3% so với quý I/2017; trong đó có 47,3 nghìn người điều trị nội trú, tăng 34,4% so cùng kỳ. Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được ngành Y tế phối hợp với các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra chặt chẽ và tập trung giám sát các cơ sở, doanh nghiệp chế biến suất ăn công nghiệp, trong các doanh nghiệp có số lượng lao động lớn và tự triển khai bếp ăn, nên trong quý I không xảy ngộ độc thực phẩm.

Do lực lượng lao động nữ đến làm việc và sinh sống ở Bắc Ninh tăng, nên số lượng trẻ em được sinh ra có xu hướng tăng và điều đáng chú ý là số phụ nữ sinh con thứ ba có biểu hiện gia tăng trở lại. Trong quý I, toàn tỉnh có 3.974 trẻ em mới sinh, tăng 17,2% so quý I/2017 (tương ứng tăng 584 trẻ em); trong đó có 682 phụ nữ sinh con thứ 3, tăng 15,6% so cùng kỳ (trong khi quý I/2017 giảm 13,6%). Các dịch vụ tránh thai, khám và điều trị phụ khoa cho phụ nữ được ưu tiên và nâng cao chất lượng. Đến cuối tháng 3, toàn tỉnh đã có 51.591 người sử dụng các biện pháp tránh thai, tăng 16,6% so cùng thời điểm năm trước. Tính đến ngày 15/3, qua xét nghiệm HIV đã phát hiện thêm 48 người nhiễm HIV nâng tổng số người nhiễm HIV từ trước đến nay trên địa bàn tỉnh lên 2.478 người.

  1. Giáo dục – Đào tạo

Giáo dục: Năm học 2017-2018, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành chính sách phát triển chất lượng giáo dục mũi nhọn trường THPT Chuyên Bắc Ninh và 8 trường THCS trọng điểm của 8 huyện, thị xã và thành phố; Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025”. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, hiện đại; tỷ lệ kiên cố hoá phòng học đạt 98,5%; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 91,4%, là tỉnh có tỷ lệ kiên cố hoá phòng học và trường chuẩn quốc gia các cấp học cao nhất cả nước[3]. Trong kỳ cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp Quốc gia khu vực phía Bắc vừa diễn ra tại tỉnh Nghệ An, ngành giáo dục – đào tạo Bắc Ninh đã chọn 6 dự án để tham dự và đã có 1 dự án đạt giải nhất.

Đào tạo: Đến nay, số trường đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học trên địa bàn tỉnh đã ổn định về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng gắn với công việc thực tế tại các doanh nghiệp, nhất là các ngành điện, điện tử, cơ khí, nhằm đáp ứng yêu cầu về tay nghề của các doanh nghiệp trong tỉnh. Các cơ sở đào tạo tiếp tục đầu tư và được hỗ trợ của nhiều doanh nghiệp FDI để cải tiến chất lượng đào tạo, thường xuyên tổ chức hội thi tay nghề kỹ thuật, năng lực sáng tạo,… Vì thế, công tác đào tạo nghề từng bước được nâng cao về chất lượng, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã được các doanh nghiệp tuyển dụng với mức thu nhập khá. Năm học 2017-2018, tại các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề có 2.650 học sinh đang theo học (không tính học viên trong các lớp ngắn hạn từ 3 tháng trở xuống) với 290 giảng viên; các trường cao đẳng, đại học có 16.580 sinh viên với 1.005 giảng viên. Ngoài ra, trong quý I, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 3 tháng) cho gần 6.000 người và đã có 4.250 người tốt nghiệp.

  1. Lao động và việc làm

Quy mô công nghiệp tăng, nên nhu cầu tuyển dụng lao động trong các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp đã chủ động phối hợp với các sở, ngành có liên quan tổ chức các đoàn đi tuyển dụng trực tiếp tại các tỉnh, thành phố ở khu vực miền Bắc. Ở trong tỉnh, các trung tâm dịch vụ việc làm đã mở nhiều đợt tư vấn và tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp. Tính chung quý I, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho 7.500 lao động, đạt 27,8% kế hoạch năm, tương  đương so cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu được 209 lao động Công tác đào tạo nghề từng bước được nâng cao về chất lượng và yêu cầu số lượng, giảm thiểu chi phí cho hoạt động đào tạo, đào tạo lại của doanh nghiệp. Trong quý, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh đào tạo nghề cho 4.251 người, trong đó 4.029 là sơ cấp nghề. Tính đến hết tháng 3 toàn tỉnh có 665,2 nghìn lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế, trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng có 329,4 nghìn lao động, tăng 1,1% so cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ có 210,9 nghìn lao động, tăng 4,1%; còn lao động trong khu vực nông, lâm, thủy sản tiếp tục giảm.

  1. Đời sống dân cư và công tác xã hội

Do quy mô sản xuất công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung của tỉnh tiếp tục được mở rộng, lao động vào làm việc trong các ngành công nghiệp tăng cao, thu nhập của người lao động trên địa bàn tỉnh cao hơn mức bình quân cả nước (gấp 1,3 lần). Theo số liệu tổng hợp, hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đều trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ, nhất là khối doanh nghiệp FDI. Tính chung, tiền lương trung bình năm 2017 của khối doanh nghiệp đạt 7.092 nghìn đồng/người/tháng, tăng 10,2% so với năm 2016. Mức thưởng Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 cao nhất là 478 triệu đồng và thấp nhất là 50 nghìn đồng. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp FDI tiếp tục bố trí xe đưa đón hoặc hỗ trợ tiền tàu xe cho người lao động về quê ăn Tết. Tuy nhiên, trong dịp Tết đã có Công ty TNHH S&N Vina nợ lương công nhân, tỉnh Bắc Ninh đã tạm ứng 853,6 triệu đồng từ ngân sách cho Liên đoàn Lao động tỉnh để công ty vay và trả lương cho 58 lao động về quê đón Tết. Đối với cán bộ công chức, viên chức, cùng với việc tăng lương cơ bản, các đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước đều chi thu nhập tăng thêm từ 1-2 tháng lương, thu nhập của cán bộ công chức, viên chức tăng trên 8%, đời sống được cải thiện hơn. Đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội được chi trả 2 tháng lương nên đời sống ổn định. Ở khu vực nông thôn, mặc dù quy mô vụ đông sụt giảm, nhưng nhờ chuyển dịch theo hướng mở rộng diện tích cây rau màu ứng dụng công nghệ cao, tiêu chuẩn Vietgap,.. giá sản phẩm đầu ra cao hơn năm trước, nên thu nhập của nông dân tăng hơn; trong chăn nuôi, giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng lên, dịch bệnh được kiểm soát, chăn nuôi từng bước ổn định; nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi lồng bè đạt hiệu quả kinh tế, đã góp phần tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. Bên cạnh đó, nhiều lao động ở khu vực nông thôn hiện đang làm việc trong các nhà máy, doanh nghiệp nên có thu nhập thêm ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm nghiệp và thủy sản. Vì thế, đời sống nông dân trong tỉnh trong quý I ổn định và được cải thiện hơn so với cùng kỳ năm trước, không có hộ và nhân khẩu bị thiếu đói.

Công tác an sinh xã hội luôn được các cấp ủy, chính quyền địa phương chăm lo và cộng đồng doanh nghiệp cùng chia sẻ, hỗ trợ. Nhân dịp Tết Cổ truyền, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận tổ quốc tỉnh phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương và các doanh nghiệp đã tổ chức các đoàn đi thăm, tặng quà các hộ nghèo, đối tượng chính sách các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Sơn La, Cao Bằng và Phú Yên với số tiền 2,5 tỷ đồng; thăm và tặng quà các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi ở 8 huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có đối tượng đang nuôi dưỡng, chăm sóc với tổng kinh phí là 456,8 triệu đồng;…Cùng với quà của Chủ tịch nước, các cấp, các ngành, các địa phương và doanh nghiệp trong toàn tỉnh đã tặng 82.724 suất quà Tết, với tổng kinh phí 28,1 tỷ đồng; so với Tết Đinh Dậu 2017, tăng 435 suất quà và tăng 6,5 tỷ đồng.

  1. An ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội: Với số lượng lớn lao động ngoại tỉnh đang làm việc trên địa bàn và tập trung ở các xã quanh các khu công nghiệp, đã phần nào tác động đến nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, lực lượng Công an đã chủ động tham mưu và phối hợp với các địa phương liên tục mở các đợt cao điểm giám sát, quản lý, tấn công và trấn áp tội phạm. Tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/3/2017, toàn tỉnh đã xảy ra 122 vụ phạm pháp hình sự, tăng 11 vụ so cùng thời điểm năm trước (có 11 vụ trọng án, tăng 3 vụ); phát hiện và bắt giữ 388 vụ buôn bán ma túy với 516 đối tượng, thu 5.271 gam heroin và ma túy tổng hợp; so cùng kỳ năm trước, tăng 53 vụ, tăng 148 đối tượng và tăng 2.677 gam ma tuý. Nhờ các lực lượng công an luôn chủ động đối phó và kiên quyết trấn áp, tấn công nên an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh vẫn được giữ vững.

An toàn giao thông: Công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát giữ gìn trật tự an toàn giao thông tiếp tục được tập trung chỉ đạo thực hiện. Cùng với việc tích cực tuyên truyền, lực lượng cảnh sát giao thông phối hợp với các ngành chức năng triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, tập trung ở những tuyến đường, nút giao thông trọng điểm. Đến nay, các nút cầu vượt QL1A và QL18 đã từng bước được nâng cấp mở rộng đồng bộ hơn, nên tình trạng ùn tắc trong giờ cao điểm cơ bản được khắc phục. Trong quý I, trên các tuyến đường bộ đã xảy ra 20 vụ tai nạ giao thông, làm chết 16 người, bị thương 5 người; so cùng kỳ năm trước, tăng 2 vụ và 3 người chết.

Công tác Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ: Tăng cường thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trên địa bàn tỉnh nhất là đối với các khu, cụm công nghiệp, chợ, trung tâm thương mại, nhà cao tầng, khu dân cư, làng nghề, cơ sở vui chơi giải trí tập trung đông người, các cơ sở trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa bảo đảm an ninh, trật tự mùa hanh khô, Tết Nguyên đán Mậu Tuất và các hoạt động lễ hội đầu năm 2018, nhất là phòng ngừa, ngăn chặn các vụ cháy, nổ lớn và đấu tranh với các hành vi vi phạm về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo theo nguyên tắc lấy phòng ngừa là chính, đồng thời phát huy tốt tác dụng PCCC theo phương châm 4 tại chỗ “Lực lượng tại chỗ - Phương tiện tại chỗ - Chỉ huy tại chỗ - Hậu cần tại chỗ”. Trong quý I, toàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy  nổ, làm 4 người chết và 8 người bị thương, gây thiệt hại về kinh tế hơn 25,5 tỷ đồng; so cùng kỳ năm trước, giảm 2 vụ, tăng 2 người chết và tăng 24,8 tỷ đồng về giá trị thiệt hại; trong đó, riêng vụ nổ kho phế liệu đầu đạn tại thôn Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong đã làm 2 người chết và 8 người bị thương, làm 7 căn nhà bị hư hỏng hoàn toàn và gần 100 căn nhà dân tại khu vực lân cận bị vỡ kính, nứt tường, sập mái.

  1. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI

- Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/1/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 và Nghị quyết của Chính phủ tại các phiên họp thường kỳ; Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 02/01/2018 của UBND tỉnh Bắc Ninh về những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018; thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, tiêu thụ sản phẩm.

- Tập trung thực hiện tốt các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020; hoàn thiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020; tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; Đề án đổi mới công tác kế hoạch; Kế hoạch hành động chiến lược tăng trưởng xanh, hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững.

- Đẩy mạnh phát triển, tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tập trung chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp sau dồn điền - đổi thửa;

- Đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai, phát triển kinh tế tập thể, xây dựng hợp tác xã kiểu mới, thúc đẩy các hình thức tạo sự liên kết chặt chẽ giữa người dân với hợp tác xã, doanh nghiệp, tăng cường gắn kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp tạo chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm; coi doanh nghiệp nông nghiệp là trung tâm, động lực để đột phá sản xuất nông nghiệp; Hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, vùng chuyên canh, vùng sản xuất các sản phẩm nông nghiệp VietGAP phù hợp thị trường tiêu thụ sản phẩm;

- Về xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; có đột phá trong thực hiện hiệu quả xây dựng nông thôn mới gắn với sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, hạ tầng nông thôn; đồng thời rà soát và bổ sung chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế; hoàn thành và tổ chức thực hiện có hiệu quả đề án “Chương trình quốc gia mỗi xã  một sản phẩm” giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh để phát triển sản phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị, gắn các tổ chức sản xuất với sản phẩm, phát huy thế mạnh của từng địa phương.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm Hành chính công tỉnh và các huyện/thị xã/thành phố; Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh với mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp, xác định doanh nghiệp là động lực của phát triển triển, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đầu tư sản xuất kinh doanh; Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư, tích cực thực hiện thu hút đầu tư gắn với phát triển bền vững các khu cụm công nghiệp, tạo ảnh hưởng lan tỏa đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Tập trung huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tăng cường xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; nâng cao chất lượng quản lý về quy hoạch, thực hiện quy hoạch và xây dựng cơ bản; quản lý vốn đầu tư, giảm nợ đọng xây dựng cơ bản, tập trung giải phóng mặt bằng; chú trọng phát triển nhà ở xã hội cùng với các công trình nhà ở, nhà văn hóa, thể dục, thể thao, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, tạm y tế cho công nhân tại các khu công nghiệp.

- Tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương; chú trọng công tác xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng thành phố thông minh; nâng cao chất lượng quản lý xây dựng cơ bản.

- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch xây dựng, đầu tư theo hướng phát triển bền vững, hiện đại, đồng bộ gắn với việc liên kết các tỉnh trong vùng Thủ đô Hà Nội. Tập trung hoàn thành đề án xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2022 trình Ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Chính trị; quản lý tốt không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị;

- Thực hiện đồng bộ các chương trình an sinh và phúc lợi xã hội, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, công tác đào tạo nghề, tạo việc làm, giảm nghèo và công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em.

- Tăng cường công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, quản lý khai thác trái phép cát lòng sông; quản lý chặt chẽ đất đai, công tác giải phóng mặt bằng phục vụ cho đầu tư phát triển. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu xử lý chất thải sinh hoạt cấp huyện, tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc để thực hiện.

- Tăng cường cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước; thực hiện tốt các biện pháp phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong sạch vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.

Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2018; Sở Kế hoạch và Đầu tư trân trọng báo cáo./.

 

Nơi nhận:

- Bộ KHĐT (Vụ KTĐP&LT, Vụ TH);

- TT Tỉnh ủy; HĐND, UBND tỉnh;

- Ban Tuyên giáo TU, Văn phòng TU, Văn phòng UBND tỉnh;

- Các Sở, ban, ngành của tỉnh;

- Viện Nghiên cứu PTKTXH tỉnh;

- Lãnh đạo Sở;

- Lưu: THQH (2), VT.

KT. GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

 

 

 

 

Nguyễn Quang Thành

 

 

[1] Tổ chức Hội thi “Hát Dân ca quan họ”; trưng bày “Các cổ vật tiêu biểu”; Hội chợ triển lãm đá cảnh, sinh vật cảnh; Lễ hội Kinh Dương Vương, Lễ hội Khán hoa mẫu đơn tại chùa Phật tích, Hội Lim; diễu hành mô tô, xe đạp thể thao; giải Cầu lông, Quần vợt; giải Vật cổ điển, kéo co, điền kinh trong các lễ hội.

[2] Ở cấp tỉnh, đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao, như: cầu lông, bóng chuyền, quần vợt, vật và võ cổ truyền, cờ vua, cờ tướng. Đặc biệt, từ ngày 24-25/2 được sự đồng ý của UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Công ty cổ phần Đầu tư khai thác cảng tổ chưc giải Bóng chuyền nữ Kinh Bắc- Cúp IMP năm 2018, với sự góp mặt của 4 đội bóng chuyền nữ là Tiến Nông Thanh Hóa, Hải Dương, Vĩnh Phúc và Kinh Bắc. Kết quả, đội Bóng chuyển nữ Kinh Bắc đã giành Cúp Vô địch, đây là bước khởi đầu tốt để tham gia thi đấu ở giải Bóng chuyển hạng A năm 2018. Ngày 11/3, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức thành công Giải chạy Nagakawa “Khỏe để lập nghiệp và giữ nước” Cúp Báo Bắc Ninh lần thứ XXII năm 2018 và Ngày chạy Olymlic Bắc Ninh hưởng ứng Asiad 18 với 11 đoàn, 183 VĐV tham gia và thu hút 3.000 đoàn viên, học sinh, sinh viên, công nhân và người cao tuổi chạy biểu dương lực lượng.

[3] Tại thời 31/12/2017, toàn tỉnh có 495 trường mầm non và phổ thông các cấp, với 8.859 phòng học và có 11.203 lớp học, 315.786 học sinh; 16.986 giáo viên; so với năm học trước, tăng thêm 2 trường (mầm non), tăng 476 phòng học, tăng 1.150 lớp học, tăng 10.569 học sinh và tăng 1.510 giáo viên.

Ban biên tập